Hiển thị các bài đăng có nhãn Gx Tân Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gx Tân Hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

GỐC TÍCH CÂY CAFÉ SẺ XỨ KONTUM




GỐC TÍCH CÂY CAFÉ SẺ XỨ KONTUM


Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, cây cà phê xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1870 tại khuôn viên nhà thờ công giáo ở các tỉnh Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Khi đến với Tây Nguyên, cây cà phê nhanh chóng trở thành mặt hàng đặc sản và được đầu tư thành cây chủ lực trong nông nghiệp, do thích hợp với thổ nhưỡng nơi đây. Tại phố núi Kontum, cà phê vẫn giữ nguyên những thế mạnh của mình với hai loại chủ yếu: cà phê Chè (Coffea Arabica), còn gọi cà phê sẻ, có giá trị kinh tế cao; và cà phê Vối (Coffea Canephora hoặc Coffea Robusta), còn gọi là cà phê trâu, là cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê. Đến đầu năm 2013, cả tỉnh Kontum có trên 11.500 héc-ta cà phê, riêng huyện Đăk Hà có gần 7.000 héc-ta (theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012).
 Tuy chưa có thống kê cụ thể, nhưng có lẽ mật độ quán cà phê ở thành phố Kontum thuộc vào loại cao so với các tỉnh thành khác trong khu vực Tây Nguyên, nếu đem so sánh với tỷ lệ dân số. Và việc thưởng thức cà phê ngày nay đang dần dần được nâng lên thành nét “văn hóa cà phê”, chứ không chỉ đơn giản là “uống” thứ thức uống mà nhiều người yêu thích. Nhiều khách du lịch khi đến với thành phố Kontum đã rất đỗi ngạc nhiên: “Đi đâu cũng gặp quán cà phê!”. Và người dân Kontum đã yêu chuộng thứ thức uống này, họ thường có mặt đông đảo tại các quán cà phê, nhất là những ngày cuối tuần hay những dịp nghỉ lễ.
Có khi nào ngồi nhâm nhi bên ly cà phê đậm đà hương vị, bạn tự hỏi: thứ nước uống độc đáo này có tự bao giờ trên đất Kontum? Câu trả lời sẽ rất thú vị: Cây cà phê đầu tiên là cây cà phê sẻ đã có mặt trên Kontum trong khuôn viên của một nhà thờ, cùng thời gian với thời gian cây cà phê đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam; và hột cà phê hồi ấy được rang nấu uống…mà không có đường, với mục đích…ngăn ngừa bệnh sốt rét!...
Mời quý vị đọc bài viết sau đây, in trong Tạp chí “Chức dịch thơ tín” của Địa phận Kontum, số 30, tháng 10/1935, trang 355-357. Tác giả bài viết là Linh mục Phaolô Lê Đình Ban gốc Bình Định, lên Kontum năm 1914 ở tại Rơhai (nhà thờ Tân Hương ngày nay). Còn Cha Phêrô Nguyên đề cập trong bài, quê ngài ở Đồng Quả, Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, thụ phong linh mục năm 1864, lên Kontum ở Rơhai năm 1867, phụ trách Dak Kấm và lập làng Dak Kiă; chính xứ Rơhai 1877-1891; qua đời tại Rơhai năm 1891.
Minh Sơn giới thiệu:

GỐC TÍCH CÂY CAFÉ SẺ XỨ KONTUM

Cây café sẻ tiếng tây kêu là moka hay là arabica, là thứ nhỏ hột và nhỏ lá. Chư vị có biết gốc tích tại sao mà cây café sẻ có tại xứ Kontum, ai đã đem lên mà trồng trước hết ở xứ này? Tôi xin thuật lại lời thầy Hộ, xưa là một chú giúp cha Do, đã theo người từ khi mở đạo xứ Kontum, thầy sống lâu, mới qua đời ít năm nay mà thôi.
Thầy kể rằng: bây giờ xứ Kontum có nhiều café và là thứ café có tiếng, là nhờ cha Nguyên đã đem lên mà trồng tại Rơhai trước hết. Cha Nguyên là một cha Annam, đã lên xứ mọi kế cha Do, người là học trò Pi-năng. Khi người còn học ở Pi-năng, người thấy cha giữ việc nhà trường, hễ thấy học trò nào hay đau rét, thì biểu đầu bếp làm café cho uống mỗi bữa sáng. Phần người cũng đã nhờ nhiều khi, mà người thấy trong mình, hễ có uống café thì hết rét và cách phấn chấn trong mình; nên người chíp trong bụng, sau về thì sẽ kiếm hột về trồng thử trong xứ mình. Vậy khi người học mãn trường mà sửa về, thì tới cha giữ việc, xin một mớ café hột: người lựa chọn lấy hột tốt, phơi phong khô ráo, rồi gói kỹ bỏ vào rương đem về.
Khi người về tới Annam, thì Đức Cha chỉ người lên mọi, vì người cũng là người xứ Đồng Quả, một quê với cha Do, nên Đức Cha định như vậy, theo lòng cha Do ước ao. Khi tới Rơhai, cha Nguyên sắp soạn đồ đạc, người đem ra một gói hạt gì, các chú không hiểu, xúm lại coi và hỏi người hột gì lạ vậy. Người trả lời đó là hột thuốc, cha đã kiếm ở Pi-năng đem về. Nó trị bịnh rét, người Annam ở xứ này hay rét, nên nếu như nó chịu đất, thì sau ta sẽ nhờ lắm, cha sẽ trồng thử. Nói đoạn, người bảo hai chú lớn đi với người, xách cuốc ra phía sau vườn. Người biểu dọn một chỗ đất im, mát, bỏ phân lạt tử tế, đoạn chính tay người ươm những hột café ấy. Cách ít lâu thì thấy mọc lên xinh tốt, người dạy bứng đem trồng xung quanh nhà vuôn. Cách vài năm thấy nó lớn lên xanh tốt, có lá sum sê, thì các chú thưa với cha: bây giờ cắt lá nó đem nấu uống như chè huế vậy hay sao. Người trả lời: không, cha thấy bên Pi-năng, rang hột nó, rồi xay ra bột nấu uống, chớ không uống lá. Tưởng nó sẽ có trái có hột, để coi. Mà thật sự, cách năm sau thì nó ra trái dóc díu, nên người lấy làm mừng mà nói rằng: đất này sẽ chịu café lắm, chắc sau người ta sẽ đặng nhờ. Đến khi trái chín, người dạy hái giả phơi khô, rang nấu uống và cũng gởi cho các cha uống thử; các cha cũng xin hột để trồng nữa. Song ngặt một đều, là ở xứ mọi hồi đó không có đường, nên uống lấy làm đắng lắm. Ấy là lời thầy Hộ già kể lại như vậy đó.
Lời thầy Hộ thuật lại tưởng cũng đáng tin, vì trong báo Missions Catholiques, cố chính Cảnh có kể lại những vật ẩm thực ở xứ mọi hồi ấy, người có nói rằng: “Bây giờ ở Rơhai chúng tôi có trồng những cây café moka còn tơ, xanh tốt, có lẽ phong thổ xứ này chịu café”. Ấy là lời cố chính viết trong sách. Bây giờ chúng ta có nhiều làng đã trồng café và cũng có nhiều chủ đã có lợi khá. Ta ăn trái, nên nhớ kẻ trồng cây.

Ít gốc cà phê còn sót lại trong khuôn viên
Nhà thờ Tân Hương năm 2013 (Ảnh: Minh Sơn chụp 01/2013)

Café vốn có nhiều thứ, song theo như những kẻ thạo dùng café, thì cho thứ café moka là ngon, dùng hay tiêu bổ hơn, song khốn nỗi, thứ café này kén đất lắm và hay bị con bò xè ăn, nên ít chỗ trồng được. Ngoài Tonkin và trong Nam Kỳ, có nhiều đồn điền trồng café, song gần hết là cây café lớn lá, trái to, nghe nói uống ít ngon. Còn thứ café sẻ ít trồng được, vì phong thổ không chịu; có nhiều sở đã thử rồi, song vô ích.
Các xứ mọi như Kontum, Pleiku, Banmêthuột, chỗ nào trồng café cũng được, song tưởng có chỗ hạp hơn, chỗ ít hạp. Tôi đã có ý xem xét café trồng ở ba xứ trên nầy, thì đoán được, chỗ đất đỏ và chỗ có cây im mát, thì café chịu hơn. Vốn café là một thứ cây ở rừng. Trong nhựt trình kia kể chuyện rằng: thuở xưa người ta chưa biết café là gì, song có lần kia, có một ngưởi Ả-Rập, thấy trong bầy dê của mình, có một con dê bộ ốm và hay run. Mỗi lần hết cơn run, thì nó tìm trong rừng một thứ lá kia mà ăn, ấy là lá café moka hay là abarica bây giờ. Cách ít lâu, thì chủ con dê có ý coi con dê ấy hết đau và mập mạp lại như thường. Nên người ấy đi bẻ lá cây ấy về nấu uống, thấy cũng được được. Đến mùa thấy trái nó chín tốt, thì lại bỏ hái lá, đi hái trái nó, phơi khô giã nấu uống, thì thấy bổ khỏe. Lần lần người ta bắt chước và lấy hột ương trồng gần nhà, cho tiện bề gia dụng. Ấy là gốc cây café, vốn nó là cây rừng nên rày nó ưa trồng nơi rừng rú im mát. Chỗ phong thổ chịu mà không có cây bóng, thì trồng café tốn công nhiều, vì phải trồng cây bóng, phải bỏ phân, vì ở nơi cây rậm, thì lá nó cũng như phân. Tôi thấy nhiều sở làm đất kỹ lắm, đào hết gốc cây, bỏ phân thiệt nhiều, song đến mùa nắng, thì café héo hết và con bò xè hay ăn nhiều. Còn những người nhà quê, trồng ít nhiều theo lối bóng mát xung quanh nhà, không tốn kém bao nhiêu, song café cũng tốt và lợi nhiều hơn trồng thứ khác.
Vậy khuyên ai nấy hãy chiêm nghiệm và trồng café ít nhiều, trước thì cũng có lợi mà lo việc thuế viết, sau thì trong vườn mình có hoa lợi, nên có việc gì chích mích, ít hay chạy, vì tiếc. Còn không, vườn trống trơn, thì hay chạy lắm, mà sự chạy cũng là sự thiệt hại nhiều. Sự trồng café cũng như các nghề khác, tùy gia phong kiệm, cứ tùy sức mình mà trồng lần hồi, đừng rán mà trồng một lần cho thiệt nhiều, rủi đất không chịu hay là bị sự gì rủi ro khác mà phải bỏ việc, thì lỗ to lắm. Ta cứ sách thường người nhà quê ta hay trồng mà trồng, đừng bắt chước các sở, vì họ có vốn to, làm kỹ lắm, mà sự phí tổn cũng nhiều lắm, ta bì sao lại. Lại khuyên một đều, là đừng trồng sát bên nhà, vì gần nhà lắm, thì sinh rậm rạp, gió vô không được, thì sinh muỗi nhiều, mà muỗi nhiều, thì rét nhiều: sợ tiền bán café, không đủ tiền mua thuốc rét.
Có nhiều thứ café: thứ moka ta thường có, là thứ có tiếng trên xứ Kontum. Thứ chari là thứ lớn lá mà nhỏ hột, là thứ các sở hay trồng nhiều. Nghe nói nó chịu nắng, con bò xè ít ăn, song lâu có trái, sáu bảy năm mới trông ăn, lại nghe nói hạ giá, ít người muốn mua. Có thứ khác nữa kêu là robusta (café trâu). Thứ này mạnh lắm, chỗ nắng nôi nó cũng chịu được, các cha ở Annam hay trồng. Trái lớn lá to, cây lớn, lâu năm mới có trái và sống lâu lắm. Thứ này càng hạ giá hơn nữa.
Trong ba thứ café trên nầy, thì tưởng có thứ moka hay là abarica, ta quen kêu là café sẻ, nên trồng hơn, vì mau ăn, có giá hơn, lại mình trồng không bao nhiêu, dễ săm soi coi sóc hơn.
Có kẻ phản đối rằng: trồng chi mất công, bây giờ café rẻ, không bằng nửa giá khi trước. Tôi xin thưa lại: bây giờ vật gì vật gì cũng rẻ, mà biểu café cao giá sao được. Khi xưa một vuôn lúa một đồng, bây giờ một đồng ba vuông. Khi xưa công nhựt một ngày năm cắc, bây giờ hai cắc không ai mướn. Mọi sự cũng  phải tùy thì tùy tiện mà chớ.
                                                             P. Ban
                          (Trích: Tạp chí “Chức dịch Thơ tín”, Địa phận Kontum -

                                      số 30, 10/1935, trang 355-357).

CHA PHILÍPPHÊ ĐỀ - Linh mục người Kontum đầu tiên của Vùng Truyền Giáo Tây Nguyên




Lm Philípphê Đề
 (1895-1937)

CHA PHILÍPPHÊ ĐỀ - Linh mục người Kontum 
đầu tiên của Vùng Truyền Giáo Tây Nguyên

Cha Philípphê Đề là linh mục người Kon Tum đầu tiên, được phong chức vào năm 1925, sau 77 năm Tin Mừng đến với Tây Nguyên, kể từ ngày thầy sáu Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, theo lệnh Đức Cha Stêphanô Cuénot (Thể) mở đường thành công lên miền đất này (1848). Khi đã đặt được cơ sở trên Miền Truyền Giáo Kon Tum (1851), Đức Cha và các Cha liền bắt tay vào việc đào tạo linh mục bản xứ. Một Chủng viện được thiết lập ngay trung tâm miền Kon Tum (tại Rơhai – khu vực nhà thờ Tân Hương ngày nay), nhưng Chủng viện phải sớm đóng cửa vì lý do thủy thổ khắc nghiệt – gây bệnh tật chết chóc cho các chủng sinh đến từ đồng bằng; còn đối với miền Kon Tum thì vì mới đón nhận đạo Chúa, và việc học văn hoá còn sơ khai, chưa đáp ứng được đòi hỏi của việc đào tạo ơn gọi. Chỉ đến khi Trường Cuénot – trường đào tạo thầy giảng (Yao Phu) và ươm mầm linh mục, được xây dựng và đi vào hoạt động (1908), thì công việc đào tạo linh mục mới thật sự bắt đầu trở lại một cách bài bản và có kết quả, dù còn rất khiêm tốn. Và từ ngôi trường – chủng viện Cuénot này (theo cách nói của cha Jannin), đã là nơi xuất thân của nhiều linh mục bản xứ Kon Tum. Cha Philípphê Đề là người đầu tiên trong số đó.

1. Gia đình và thân thế.

          Cha Philípphê Đề sinh năm 1895 tại họ đạo Trại Lý (sau đổi tên Gò Mít – nay là giáo xứ Tân Hương, giáo phận Kon Tum), trong một gia đình đạo đức. Cha ngài mất sớm, còn mẹ là bà Lý là người phụ nữ đức hạnh, giúp việc cha sở Tân Hương lâu năm. Theo cha Phaolô Lê Đình Ban ghi lại, khi cha mới lên Kon Tum (năm 1914), ở Tân Hương làm cha phó cha Alberty (cố Hiền), hàng tuần cứ đến thứ tư thì bà Lý đưa các trẻ em nữ đến nhà xứ để cha khảo hạch giáo lý, dạy dỗ thêm. Cha nhận thấy các em siêng năng sốt sắng và hiểu lẽ đạo khá, thì hay khen bà Lý có lòng đạo đức và biết cách hướng dẫn chỉ bảo các em.

          Được có một người mẹ đạo đức, gương mẫu như vậy, cha Đề hẳn đã hấp thụ một nền giáo dục tốt từ gia đình. Ngay khi còn nhỏ, trẻ Philípphê Đề có tính nết hiền lành, thật thà, ngay thẳng. Chắc chắn việc học giáo lý, tham dự thánh lễ tại nhà thờ giáo xứ, tập làm các việc nhân đức… là những điều mà em thực hành thường xuyên, ít khi nào bê trễ.

2. Con đường tiến đến chức linh mục.

Năm 1908, Trường Chân Phước Cuénot vừa được xây dựng xong và khánh thành (13.01.1908), nhằm đào tạo thầy giảng người dân tộc (Yao Phu) và ươm trồng ơn gọi linh mục. Cha Martial Jannin (Phước) được đặt làm giám đốc trường. Năm ấy cha Đề vừa tròn 13 tuổi, đã được cha giám đốc tuyển chọn vào học trường Cuénot khoá đầu tiên. [Khoá đầu tiên 1908 có tất cả 89 học trò nhập học, qua tuyển lọc còn 50 em;  trong số đó sau này có 24 chú làm Giáo phu, và đặc biệt chỉ một mình chú Philípphê Đề đi đến chức linh mục]. Trong trường Cuénot, các học trò hàng ngày được tập rèn khép mình vào kỷ luật, thực hành kinh nguyện, học tập văn hoá…, và bước đầu học tiếng La tinh, do cha Alberty (Hiền) hướng dẫn. Nhận thấy trẻ Philípphê Đề không những hiền lành đạo đức, mà còn sáng trí, nên năm 1909, Bề trên chọn gởi đi Tiểu Chủng viện Làng Sông (Qui Nhơn) để tu học trở thành linh mục. Tại TCV Làng Sông, chú Đề về sức học cũng vừa theo kịp các bạn đồng lớp, nhưng tính hạnh thì ai cũng khen: hiền lành thật thà, không bao giờ giận ai, không bao giờ mất lòng ai. Hạnh kiểm tốt của chú được cha giám đốc Chủng viện ghi nhận và báo về cha Bề trên Kon Tum, làm ai nấy đều vui mừng và hy vọng. Mãn Tiểu chủng viện, thầy Đề được Đức Giám Mục Địa phận Đông Đàng Trong chỉ định đi thực tập mục vụ 2 năm tại họ đạo Gò Thị (Bình Định). Đây là một họ đạo kỳ cựu, số giáo dân đông và ruộng đất phì nhiêu, nơi đặt Toà Giám Mục (cũ) thời Đức cha Cuénot, có tu viện của các nữ tu Mến Thánh Giá…Nơi đây là quê hương các thánh tử đạo, như thánh Giám mục Stêphanô Cuénot (Thể), thánh  Anrê Năm Thuông (Nguyễn Kim Thông).v.v., càng hun đúc thêm tinh thần truyền giáo và lòng trung thành bền đỗ nơi thầy. Sau 2 năm giúp xứ chu toàn bổn phận, thầy được gọi trở lại tiếp tục tu học tại Đại Chủng viện Qui Nhơn. Và đến năm 1925, thầy Philípphê Đề thụ phong linh mục, do Đức Cha Damien Grangeon (Mẫn), giám mục giáo phận Qui Nhơn truyền chức. Cha Philípphê Đề là vị linh mục địa phương Kon Tum đầu tiên, sau 77 năm kể từ khi Tin Mừng được gieo vãi trên miền đất này vào năm 1848. 

 
Giáo phận Đông Đàng Trong. – Toà nhà chính của 
Trường học-Chủng viện Cuénot, Kon Tum; 
hình vẽ lại từ một tấm ảnh của Cha Jannin*

 3. Hoạt động mục vụ.

          Lãnh nhận chức linh mục rồi, Đức Cha Qui Nhơn sai ngài về lại phục vụ quê hương Kon Tum, và Bề trên Kon Tum (lúc đó là Cha Jannin Phước) chỉ định ngài phụ trách địa sở Kon Sơlăng – Plei Tơuer. Kon Sơlăng – Plei Tơuer là một địa sở gồm 2 sắc dân: Bana và Jơrai. Dân Bana tòng giáo đã lâu, giữ đạo có phần nề nếp hơn; còn dân Jơrai mới theo đạo, và còn vướng nặng với các tập tục mê tín, nên ngài phải vất vả với họ nhiều. Ở đó cũng có một họ nhỏ người Kinh là họ Tân Phước (gốc dân Tân Hương, lập từ năm 1924), dù bổn đạo còn ít song ngài cũng lo lắng cất nhà thờ riêng cho họ.

          Năm 1937, nơi vùng dân tộc Jơrai rộ lên phong trào mê tín dị đoan về Dam Klan (thần xà), loan truyền về “thần mới, đạo mới”. Trong địa sở Kon Sơlăng cũng có nhiều làng đi xin “nước linh” của Dam Klan và giết trâu bò cúng tế. Cha Đề rất lo lắng và buồn lòng. Trong báo cáo gởi Đức giám mục địa phận (Đức Cha Martial Jannin Phước), cha đã trình rằng: Dân Jơrai thiệt yếu đuối về đức tin và cứng cỏi về việc đạo, dù con hết lòng dạy dỗ lo lắng thế nào, thì họ cũng lãng xao như dân ngoại. Bởi lo sợ giáo dân nghe theo kẻ ngoại làm điều mê tín dị đoan, nên ngài cất công đi từ làng này qua làng khác, nhằm lúc mùa mưa lụt, nhiều khi ngài phải ướt cả mình. Do vậy, đầu tháng 6.1937, ngài bị bệnh thương hàn rất nặng, tưởng chừng không qua khỏi. Nhờ ơn Chúa và uống thuốc men, nên bệnh thương hàn đã khỏi, nhưng lại phát qua bệng thũng. Đức Cha đưa ngài về Kon Tum chữa trị, uống thuốc nhà thương Kon Tum., sau chuyển xuống nhà thương Qui Nhơn, nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Ngài xin chuyển qua điều trị bằng thuốc Nam, ban đầu theo thầy thuốc ở  huyện Bồng Sơn, sau đến ở nhà một người bà con ở họ Trung Yên (Bình Định), tìm thầy hốt thuốc,  nhưng bệnh tình cứ ban đầu có dấu bớt, sau lại trở nặng hơn. Biết khó chữa khỏi, ngài viết thơ xin Đức Cha và cũng nhắn tin nhờ các cha nói cho mình được về Kon Tum, để nếu có chết cũng ở giữa anh em linh mục và bà con  bạn hữu. Nhưng Đức Cha còn hy vọng nên khuyên ngài ra lại nhà thương Qui Nhơn chữa trị. Lúc ấy ngài rất buồn nhưng cũng sẵn lòng ra đi: Tôi đi là vâng lời Đức Cha, vì vâng lời hơn của lễ, chớ phần tôi thì ước ao về Kon Tum mà thôi!

          Ngài vào nhà thương Qui Nhơn, đến đầu tháng 11/1937 thì bệnh trở lại rất nặng. Và 8 giờ sáng ngày 4/11/1937, Cha Philípphê Đề đã trút hơi thở cuối cùng, an nghỉ trong Chúa. Các Cha trong vùng lân cận lo đem xác ngài về nhà thờ Thác Đá. Nhận được tin, các Cha Kon Tum gồm Cha Phan, Cha Ban, Cha Stutzmann (Báu) và một cha nữa, thay mặt Đức Cha Kon Tum xuống Qui Nhơn lo liệu việc an táng. Giáo dân 2 họ Thác Đá và Trung Yên thay nhau cầu lễ. Và ngày 6/11/1937, thánh lễ an táng Cha Đề tại nhà thờ Thác Đá do Cha Phan, là niên trưởng các Cha người Kinh ở Kon Tum, chủ tế. Cha Ban nói lời cám ơn, và Cha Stutzmann (Báu) làm phép tại huyệt mộ. Cha Philípphê Đề đã được an táng tại Nghĩa địa các đấng tử đạo thời Văn Thân (1885), ở gần bên nhà thờ Thác Đá. Nơi đây, ngài an nghỉ chờ ngày phục sinh cùng các đấng tử đạo.

          Tuy cuộc đời ngắn ngủi với 42 năm tuổi đời, 12 năm linh mục, nhưng Cha Philípphê Đề được biết đến là một linh mục hiền lành, đạo đức, tận tuỵ với công việc mục vụ. Ngài là hoa trái đầu tiên của địa phận Kon Tum, báo hiệu những kết quả tốt đẹp hơn trong việc đào tạo linh mục bản xứ cho miền truyền giáo Tây Nguyên này.

-P. Lê Minh Sơn-         
                                                                                                                      
—————————– 
Tài liệu tham khảo:
1/ Cha Phaolô Ban, “Hạnh tích cha Đề”, Tạp chí Chức Dịch Thơ Tín, Địa phận Kon Tum, số 58, tháng 2/1938, tr. 789-791.
2/ Hlabar Tơbang, Hnam trưng Kuênot, số 1, năm 1911, mục “Măt tôm de hok tro xo”, tr. 1-3.
3/ Kỷ yếu Năm Thánh Yao Phu, Giáo phận Kon Tum 2008, mục“Danh sách học sinh trường Cuenot năm 1908”, tr. 50-51.
4/ Thư của cha Martial Jannin, Hội Thừa sai Paris, năm 1910 (tiếng Pháp) – “Một vườn ươm thầy giảng và linh mục ở xứ Bahnar”.
*Hình trường Cuénot trong bài này được được trích từ bức thư trên.

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

TÊRÊXA - MÁI TRƯỜNG NGÀY ẤY...


            Trong cuộc đời đi học của tôi, thời gian 3 năm đầu tiên tại trường Tư Thục Trung Tiểu học Thánh Têrêxa, do quý Soeurs dòng Thánh Phaolô quản trị, đã ghi vào tâm hồn tôi những trang đẹp đẽ và nhiều kỷ niệm khó phai nhoà.

            Đó là khoảng thời gian từ năm 1972 đến 1975. Một buổi sáng mùa thu, ba tôi dắt tay tôi bước vào cổng trường. Biết bao cảm xúc xốn xang, lạ lẫm của “ngày đầu tiên đi học”, đúng như dòng cảm xúc mà nhà văn Thanh Tịnh đã tài tình nói hộ cho những đứa trẻ ngày đầu tiên đến trường. Vào Văn Phòng mua sách tập đồ và viết chì xong, ba tôi đưa tôi đến lớp học. Tôi bịn rịn rơi nước mắt níu áo ba tôi khi người quay về để lại tôi trước thềm lớp học. Thế rồi có một Soeur đến vuốt đầu tôi và dẫn tôi vào lớp. Đó là lớp Mẫu Giáo do cô Ngọc chủ nhiệm. Lên lớp trên, tôi còn được học với cô Giáo và một vài Soeurs nữa…       
  
            Trường Thánh Têrêxa Tân Hương ngày xưa nguyên là ngôi trường do Cố Hiền (Jules Alberty-cha sở giáo xứ Tân Hương 1913-1948) xây dựng từ năm 1931, tọa lạc trên khu đất bên hông phải nhà thờ Tân Hương. Đến đầu năm 1932, trường do các nữ tu Mến Thánh Giá Bình Định lên phục vụ, dạy văn hoá cho các em người Kinh lẫn Dân tộc. Đến niên khoá 1940-1941, trường được chuyển giao cho các Nữ tử Bác ái Vinh Sơn phụ trách, mở các lớp xoá mù chữ và tiểu học, dạy may, thêu, nữ công gia chánh…

            Năm 1958, thị xã KonTum khá phát triển, dân số tăng nhanh, nhu cầu văn hoá ngày càng cao, Toà Giám Mục Kon Tum quyết định mở rộng trường tư thục Têrêxa, nâng lên bậc Trung học, xây mới lại hoàn toàn cơ sở trường lớp ngay tại vị trí trường PTTH Kon Tum bây giờ. Năm 1958 cũng là năm hội dòng Thánh Phaolô đáp ứng lời mời gọi của Đức Giám Mục Giáo phận Paul Seitz Kim, gởi các nữ tu lên Kon Tum phục vụ. Đức Cha liền giao cơ sở trường Têrêxa mới này cho các Soeurs Phaolô quản trị. Nhà các Sơ (tu viện) là một toà nhà hai tầng toạ lạc liên thông với nhà trường nên rất thuận tiện trong việc điều hành. Cộng đoàn của các Soeurs vì vậy mà cũng mang tên Thánh Têrêxa (Hài Đồng Giêsu), vị thánh nữ truyền giáo bằng cuộc đời nhỏ bé, thầm lặng nhưng kết hiệp thâm sâu với Chúa Giêsu.

Trường có đầy đủ tiện nghi cần thiết cho việc dạy và học. Ngoài một văn phòng nơi cung cấp sách vở, dụng cụ học tập, còn có một hội trường khá lớn có sân khấu. Cứ đến cuối năm học, trong buổi lễ tổng kết phát thưởng, các lớp đều tham gia diễn văn nghệ tại sân khấu này. Ba dãy lớp học thoáng rộng, có sân chơi với những hàng cây phượng và huynh diệp râm mát. Sỉ số mỗi lớp học hợp lý, không quá đông…Ngoài các môn học chính khoá, nhà trường còn có các lớp nữ công gia chánh do chính các Soeurs hướng dẫn như thêu đan, làm hoa giấy, cắt may… và nhiều việc thủ công khác. Cách tổ chức và quản trị học vụ của quý Soeurs Têrêxa thời ấy thật hoàn hảo, kỷ luật học đường nghiêm chỉnh, đội ngũ giáo sư uy tín…

            Tôi còn nhớ mãi hình dáng nhỏ nhắn, nét mặt hiền hậu của Bà Nhất Hiệu trưởng Marie Paul Võ Thị Mỹ. Tôi không sao quên được chữ ký đậm chắc đầy uy lực của Bà Nhất Hiệu trưởng trong Thông Tín Bạ (Học Bạ bây giờ) và trên Bảng Danh Dự (một loại giấy khen) cấp hàng tháng cho các học sinh có vị thứ nhứt, nhì, ba trong lớp. Tôi vẫn nhớ cảm giác vui sướng mỗi khi được xướng tên lên cột cờ lãnh Bảng Danh Dự. Đó thật sự là niềm hãnh diện đối với bạn đồng học tại trường, còn khi về nhà thì đem trình khoe với ba má và ông nội để được ông thưởng cho 5 đồng xu ăn quà. Tôi nhớ cả gương mặt các Souers dạy học hay giám thị như bà Bernadette, Madelenne…

            Mặc dù rất bận rộn với công tác học đường, các nữ tu vẫn không quản ngại hết mình phục vụ trong những công tác tông đồ tại giáo xứ Tân Hương. Không những chỉ dạy văn hoá, các nữ tu còn chăm sóc đời sống tinh thần, đạo đức và dạy giáo lý cho các em. Vào thời đó, mỗi sáng Chúa nhật chúng tôi được học giáo lý bên trường Têrêxa, do các nữ tu và một số giáo lý viên giáo xứ hướng dẫn. Sau mỗi giờ giáo lý bên trường, chúng tôi được hướng dẫn đi theo hàng trật tự sang nhà thờ dự thánh lễ dành cho thiếu nhi, ngang qua một cánh cổng nối liền phía sau nhà thờ. Sơ Nghĩa, Sơ Huê…là những người đã ươm mầm đức tin tuổi ấu thơ, đưa chúng tôi đến với bí tích Thánh Thể qua lớp xưng tội rước lễ lần đầu, và những lớp giáo lý tiếp theo.

Về sau tôi được biết thêm những điểm nổi bật nhất trong những năm phát triển của cộng đoàn Têrêxa Tân Hương là những công tác tông đồ trong giáo xứ: dạy giáo lý thiếu nhi, giáo lý hôn nhân, sinh hoạt Nghĩa binh Thánh Thể, đạo binh Đức Mẹ (Legio Mariae), phụ trách ca đoàn, lo phòng thánh, thăm viếng an ủi các gia đình, những người già yếu bệnh hoạn và dạy tân tòng…

Sau 1975, tôi phải tạm xa ngôi trường yêu dấu, vì ngôi trường đã bị Nhà Nước trưng thu. Các Sơ Têrêxa cũng không còn quản trị học vụ tại trường mà buộc phải âm thầm lui về tu viện, bắt đầu cuộc sống mới trải qua biết bao thăng trầm…Từ đây, ngôi trường thuộc quyền Nhà Nước được sử dụng làm trường Cấp 3, không còn dành cho cấp tiểu học.Tôi cũng phải bắt đầu cuộc đời đi học đầy gian khổ qua nhiều ngôi trường khác nhau như trường Ngô Quyền (trường Công-Kon Tum cũ, lớp 3), trường Quyết Thắng 3 (Bồ Đề cũ, lớp 4), trường tạm Nông Lâm Súc (trại Nguyễn Huệ cũ, lớp 5), trường Lý Tự Trọng (Hoàng Đạo cũ, lớp 6 đến 9). Lên cấp 3 tôi mới có dịp học lại trường Têrêxa, vẫn mái ngói tường vôi cũ rêu phong và những hàng phượng nay đã già cỗi lại tiếp tục cùng tôi lèo lái con đò học vấn. Vào những buổi tan học hay những giờ ra chơi ngồi suy nghĩ vẩn vơ, nhìn về hướng nhà các Soeurs bị ngăn cách với ngôi trường bởi một tường rào phủ kín dây leo hoa tigôn,  những kỷ niệm thuở đầu đời đi học lại hiện về, không chỉ là những hoài niệm, mà cả sự kính phục mến yêu đối với những con người đã nguyện hiến trọn đời mình cho việc truyền giáo, mà quý Soeurs Têrêxa như những “kỹ sư tâm hồn” giúp khai mở và vun trồng tri thức-đạo đức làm người.

            Ngày nay, các nữ tu Phaolô – cộng đoàn Têrêxa Tân Hương vẫn tiếp tục sứ mạng truyền giáo, luôn vui vẻ nhiệt thành phục vụ, góp phần xây dựng giáo xứ và giúp cho giáo hữu Tân Hương được sốt sắng và đến gần Chúa hơn, đồng thời mở rộng địa bàn phục vụ đến những anh chị em vùng sâu vùng xa, các làng dân tộc. Xin cảm ơn quý Soeurs thật nhiều! Xin cảm ơn Têrêxa – ngôi trường ngày ấy…

---o0o---

Nhân kỷ niệm 50 năm hiện diện và phục vụ
tại giáo xứ Tân Hương – Kon Tum
của quý nữ tu dòng Thánh Phaolô, cộng đoàn Têrêxa.
                                                                                           
                                                                                               Phêrô Lê Minh Sơn

NHÀ THỜ XỨ TÔI



Nhà thờ Tân Hương, giáo phận Kon Tum

Khi tôi sinh ra, ngôi Nhà thờ đã có từ rất lâu rồi. Ba má, chú bác, cô dì tôi chào đời, đều được ông bà nội–ngoại đưa đến Nhà thờ lãnh nhận Phép Rửa tội. Ông nội tôi từ đồng bằng lên Kon Tum hồi còn niên thiếu, có lẽ ông Cụ đã hoà vào dòng người gồng gánh thượng sơn vào cái thời Đạo bị cấm cách dưới miền xuôi, theo con đường Thầy Sáu Do khai mở.

Sau này chúng tôi có hỏi ông về họ hàng thân thích dưới quê, ông chỉ mỉm cười, không còn nhớ một ai! Chỉ biết quê quán ở Đồng Hâu, tỉnh Bình Định, một mình theo lên giúp các Cha từ nhỏ.

Rồi ông nội tôi sánh duyên với một thiếu nữ cùng làng, nết na thuỳ mị, con gái của ông Trùm Họ Gò Mít (Trùm Tài), cũng là Chánh tổng Tổng Tân Hương thời đó (tiền thân thành phố Kon Tum ngày nay). Hai người chịu thương chịu khó, khai khẩn lập điền, tạo dựng nhà cửa. Đứa con đầu lòng ra đời (mang tên thánh Martial) được ĐGM tiên khởi giáo phận Kon Tum (lúc đó còn là linh mục) rửa tội và đỡ đầu, hai người liền hiến dâng cho Chúa để trở thành Linh mục. Ông nội tôi qua đời năm 1975 ở tuổi 97.

Tôi kể đôi điều về ông bà tôi, để hiểu vì sao cuộc đời tôi đã gắn bó với làng quê Tân Hương và với ngôi Nhà thờ giáo xứ tôi.

Năm lên 12 tuổi, tôi xin vào Hội giúp lễ. Ngày ngày gần bên cung thánh mới có dịp khám phá về ngôi Nhà thờ. Trong trí óc trẻ thơ, ngôi Nhà thờ là một công trình thật vĩ đại và tôn nghiêm. Dần dần tìm hiểu tôi mới biết đây là ngôi Thánh đường thứ tư của giáo xứ còn đến ngày nay, được xây dựng vào năm 1906, do Cố Ngự (Demeure) Cha xứ lúc đó đốc công. Giáo dân Kinh-Thượng phải dùng voi, trâu bò, ngựa...kéo gỗ tận cánh rừng bên kia sông Dakbla, xuôi dòng cập bờ, rồi vượt dốc, chuyển về từng cây gỗ, thuê thợ giỏi tận dưới Bình Định, Quãng Ngãi lên đục đẽo, xây dựng.

Qua thời gian, Nhà thờ được sửa sang nhiều lần, cho đến hôm nay thì đã hoà trộn giữa ba lối kiến trúc Châu Âu, Thượng và Kinh. Nhà thờ có diện tích sử dụng hơn 750m2, được làm bằng các loại gỗ quí hiếm như cà chích, sao...Mái dốc đỉnh nhọn, cửa sổ kính và 3 tháp cao đỉnh nhọn, trần vòng cung... tạo ra không gian bên trong rộng lớn và gây cảm giác cuốn hút con người lên cao. Khung cảnh nội thất yên tĩnh tạo ấn tượng nhẹ nhàng, thanh thoát vừa hướng tới siêu tại, vừa say đắm với thực tại. Trần vòng cung được trét đất trộn rơm, nhằm giữ cho âm thanh trong Nhà thờ ấm và vang.  Mặt tiền Nhà thờ có tháp gạch cao 20m (tháp chuông), kiến trúc theo kiểu gô-tích, nhìn thanh thoát nhưng không kém vẻ uy nghiêm. Hai bên tháp chuông có 2 bức phù điêu, cẩn những mảnh sứ màu lóng lánh: bức bên phải là hình Tổng lãnh thiên thần Micae chiến thắng Con Mãng Xà – tên địch thủ xa xưa kiêu căng đòi đồng hàng với Thiên Chúa (x.Kh 12), như muốn khẳng định chân lý: không ai có thể làm nổi những công việc mà chỉ có Thiên Chúa mới làm được; bức bên trái vẽ hình Thánh Mác-ti-nô hồi còn là một sĩ quan La Mã, ngồi trên lưng ngựa rút kiếm ra xẻ đôi chiếc áo choàng đang mặc, trao cho người ăn mày một nửa, nêu mẫu gương bác ái yêu thương, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhất là những người nghèo khổ.

Trên các cánh cửa ra vào, các khung cửa sổ, các cột bên trong Nhà thờ, lan can lầu chuông, bao lơn cung thánh, bàn thờ, Nhà Tạm... được chạm trổ hết sức công phu theo kiểu rô-man, lộng lẫy và tráng lệ. Sàn Nhà thờ cao hơn 1 mét với lối ra vào hai bên hông và phía sau xây theo kiểu nhà chồ có bậc cấp lên xuống, mang sắc thái nhà sàn của đồng bào Tây Nguyên. Ngạc nhiên nhất là những hàng cột. Những cột gỗ to tròn bóng loáng tưởng chừng như soi gương được, mát lạnh khi sờ vào. Mỗi cây cột lớn có ba cột con bám vào, có  bồn đỡ bằng gỗ chạm hình cành lá vạn tuế, được sơn phết màu nhũ với đường viền đỏ, tựa trong một cung điện.

Tại vị trí cao nhất trên cung thánh là đài Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, bổn mạng giáo xứ. Tượng Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu tay cầm tràng hạt hết sức tinh xảo, trông tuyệt đẹp. Hồi đó, tôi hằng ước ao có cách nào để được đến gần Đức Mẹ, được chiêm ngắm tường tận và sờ tay vào tà áo xanh có nước sơn bóng loáng bụi không thể bám vào dù qua năm tháng.

Nhà thờ vẫn còn giữ một cây đờn Harmonium, được sản xuất vào năm 1897 bên Pháp. Có lẽ cây đờn được sắm từ thời Cố Hiền (đầu thế kỷ XX), dễ chừng gần trăm năm.

Dưới cuối nhà thờ, tại hai cột lớn sau cùng gần cửa ra vào, có hai vỏ ốc lớn dùng đựng nước thánh, lâu năm nên ố vàng. Mỗi vỏ ốc đại ấy đặt trên một cột con có đế đỡ chạm trổ. Hàng tuần chúng tôi phải cọ rửa và thay nước thánh trong hai vỏ ốc, để giáo dân khi vào Nhà thờ, thường nhúng ngón tay vào nước thánh rồi mới làm Dấu Thánh giá.

Nếu chọn một góc nhìn nghiêng từ phía trước tiền đường, ta thấy ngôi nhà thờ uy nghi vươn lên vững chắc, có một vẻ đẹp độc đáo riêng. Đường nét giản dị, không rối rắm cầu kỳ, tổng thể ngôi nhà thờ tạo nên một cảm giác cân bằng nội tại, bình ổn vững chãi.

Tôi có một kỷ niệm với tháp chuông Nhà thờ, mà bây giờ nghĩ lại nhiều lúc vẫn thấy mình thật liều lĩnh!

Hối ấy lễ sinh chúng tôi thường quét dọn nhà thờ, sửa soạn phòng thánh vào khoảng 12 - 13 giờ trưa thứ Bảy hàng tuần. Hôm đó chúng tôi gồm Hoan, Linh, Sơn., Tuấn, Đạm, Trung…, và tôi quyết định thám hiểm tháp chuông. Cửa cầu thang lên lầu chuông đã bị khoá. Chúng tôi phát hiện có một lối lên từ phía sau phòng áo. Thế là chúng tôi leo lên, chui vào trần nhà, mon men theo những tấm ván hẹp lót dọc trên đà. Phía dưới và chính giữa là trần vòm trét đất nhô lên sần sùi, đầy bụi bặm. Phải thật cẩn thận, nếu không sẽ rơi xuống làm thủng vòm trần. Đến đầu bên kia phía cuối nhà thờ, lòn qua một cửa nhỏ, thế là lọt vào lầu chuông, liền nhìn thấy hai dây kéo chuông bằng thừng thật to từ trên tháp thòng xuống đến tận sàn. Từ đây, sau khi nhìn xuống sân nhà thờ qua các ô cửa sổ nhỏ hình vòng cung, chúng tôi tiếp tục hành trình đầy mạo hiểm: leo lên theo khung giàn gỗ thẳng đứng, lên đến chỗ đặt 2 chiếc chuông. Chuông lớn ở dưới, chuông nhỏ bên trên. Ngồi trên những thanh gỗ của đế chuông, thõng chân đong đưa, vừa để nghỉ mệt, tay vừa mân mê 2 quả chuông đồng mát lạnh, một lớn một nhỏ. Hai quả chuông mà âm thanh ngân vang đã quá quen thuộc đối với người dân thị xã, nếu giật cùng một lúc sẽ vang lên âm thanh chuẩn đúng một quãng ba: Đô-Mi-Sol, Đô-Mi-Sol, Đô-Mi-Sol...

Nghỉ mệt một chút, tiếp tục lên nữa chúng tôi đến được đỉnh tháp. Chui qua một lỗ nhỏ, thò đầu ra ngoài, ngay bên trên là cây Thánh giá chóp đỉnh Nhà thờ. Sau một phút choáng ngợp và thoáng rùng mình, trước mắt chúng tôi hiện ra toàn cảnh một vùng rộng lớn của thành phố: dòng sông Đakbla uốn lượn phía trước mặt với cây cầu bắc qua, nhà thờ Chính Toà ở hướng tay trái, rồi Chủng viện, khu chợ trung tâm, đường phố nhà cửa.v.v.Đối với tôi, được lên đến đỉnh tháp nhà thờ là niềm sung sướng nhất, và đó cũng là lần duy nhất trong suốt quãng đời tôi.

Khi lần lượt leo xuống trở lại, chúng tôi nghe có tiếng cha sở trong phòng áo. Ngài đã phát hiện và thu gom tất cả dép của chúng tôi mang vào nhà xứ. Từng đứa từng đứa chúng tôi vào gặp cha sở đều được Ngài răn dạy về sự nguy hiểm của hành động vừa rồi, và “thưởng” cho mỗi đứa một roi mây quất thẳng vào lưng. Có mấy đứa khóc thét lên. Riêng tôi, vết roi mây đã hằn vào tâm hồn một kỷ niệm êm đềm, cùng với tháp chuông Nhà thờ, vị cha sở kính yêu và bài học về tính ngông cuồng tuổi thơ dại.
           
Tôi yêu ngôi Nhà thờ xứ tôi. Ngôi Nhà thờ đã góp phần xây dựng đền thờ tâm hồn tôi, dù tâm hồn tôi nghèo nàn bất xứng. Mỗi lần đi đâu xa, tôi luôn nhớ về Nhà thờ, nhớ khung cảnh thánh lễ trang trọng, bầu khí cộng đoàn ấm cúng. Để đến khi trở về, lúc xe vừa chạy qua ranh giới hướng vào thị xã, từ bên này dòng sông Đakbla yêu dấu, nhìn chếch hướng Đông, đã thấy sau lũy tre đung đưa trong gió ngôi tháp Nhà thờ và Thánh giá sừng sững trong nền mây xanh trắng, thì tự nhiên trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả, giống như cảm xúc của đứa con đi xa sắp về đến nhà cha mẹ. Chỉ khi mấy hôm sau đến dự thánh lễ, niềm cảm xúc mới dần nguôi ngoai.
Tôi thầm tạ ơn Chúa, tri ân các vị tiền nhân đã chịu bao hy sinh gian khó để xây dựng nên ngôi Nhà thờ xứ tôi. Tôi đội ơn các bậc tiền hiền, ông bà, cha mẹ đã yêu quí và gắn bó với Nhà thờ, để đức tin được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ngày chị tôi cử hành hôn phối, tôi chạy lăng quăng theo đoàn rước cô dâu chú rể, trong tiếng nhạc hân hoan thánh thiện, cứ vô tư cười nói, mà quên hẳn là đoàn rước đang tiến lên cung thánh. Rồi hôm đưa tiễn ba của tôi lần cuối, tôi đứng tựa nép vào cột Nhà thờ, nước mắt chảy ròng trên má, mà nghe trong tâm hồn biết bao lời an ủi. Đứa con trai đầu lòng của tôi chào đời đúng vào dịp mừng kỷ niệm Nhà thờ tròn 100 năm tuổi. Đứa bé được đưa đến Nhà thờ để lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, bắt đầu một hành trình đức tin mớiTôi cầu mong cho ngôi Nhà thờ xứ tôi còn tồn tại mãi, làm chỗ dựa tinh thần cho nhiều thế hệ con cháu nữa, không chỉ của giáo dân Tân Hương mà còn của mọi người dân Kon Tum. Không phải tôi hoài cổ. Nhưng như câu hát người đời vẫn thường nhắc nhau xin đừng bao giờ quên lãng:    
       
“Quê hương...
  Nếu ai không nhớ
              Sẽ không lớn nổi thành người”*.


Bên trong Nhà thờ Tân Hương


*Thơ: Đỗ Trung Quân, Nhạc: Giáp Văn Thạch

    Kỷ niệm Nhà thờ giáo xứ,
Phêrô Lê Minh Sơn